Showing posts with label Ngôn Ngữ. Show all posts
Showing posts with label Ngôn Ngữ. Show all posts

October 4, 2015

- 12 Cốn Tiểu Thuyết Nhất Thế Giới

Dưới đây là danh sách 12 cuốn tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất, xuất sắc nhất thế kỷ 21 tính tới thời điểm này.

1. The Brief Wondrous Life of Oscar Wao (Cuộc đời ngắn ngủi kỳ lạ của Oscar Wao - 2007) nhà văn Junot Díaz

(Cuộc đời ngắn ngủi kỳ lạ của Oscar Wao - 2007) đứng đầu top 12 tiểu 

thuyết hay nhất thế kỳ 21

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Junot Diaz kể về cậu thanh niên Oscar Wao - một người Do Thái sống ở bang New Jersey, Mỹ, cậu ước mơ trở thành một nhà văn vĩ đại và tìm thấy tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Cuốn tiểu thuyết này đã vinh dư nhận giải thưởng Pulitzer - giải thưởng văn học danh giá nhất hành tinh. 

- 36 Lời dạy Của Cổ Nhân

Tục ngữ, châm ngôn, thành ngữ, phương ngữ Việt Nam đã được nhiều học giả để ý sưu tầm, giải nghĩa từ khoảng một trăm năm nay. Sách viết bằng chữ hán, chữ nôm vừa hiếm, vừa khó hiểu nên dần dần bị quên lãng. Sách còn được lưu truyền đến ngày nay, hầu như chỉ có sách viết bằng chữ quốc ngữ. Coi như chữ quốc ngữ đã loại được chữ " thánh hiền " và chữ " nôm na ".

 Đáng ngạc nhiên hơn nữa là trong số những người đi tiên phong trong việc truyền bá chữ quốc ngữ lại có cả người Pháp. Trong lúc người Việt còn bàn cãi thì một vài người Pháp đã bắt đầu viết sách bằng chữ quốc ngữ về... tục ngữ, thành ngữ Việt Nam.
 Có thể kể: - Sách Chrestomathie Annamite (Quảng tập viêm văn) của"Dáo (giáo) học Ngô Đê Mân" (Edmond Nordemann, professeur au Collège des Interprètes, Trường Thông Ngôn). Edmond Nordemann (viết tắt EN) cũng là người sáng lập ra Société tonkinoise d'Enseignement mutuel (Hội Trí Tri).
 Sách Quảng tập viêm văn được xuất bản năm 1898 tại Hà Nội, gồm 180 bài phương ngữ Bắc Kỳ, kèm theo một tập từ vựng giải thích. Thiên thứ chín sưu tầm "Nhời ví mấy câu ví, dọn theo vần A, B, C ". Nhời ví, câu ví là những câu tục ngữ và thành ngữ được phổ biến đến tận ngày nay. Sách còn cho người đọc thấy được tình trạng chữ quốc ngữ tại Bắc Kỳ hồi cuối thế kỉ 19. 

- Các bài biên khảo về Croyances et Pratiques Religieuses des Viêtnamiens (Tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo của người Việt Nam) của Léopold Cadière (LC), được viết trong khoảng từ năm 1901 đến 1912. Năm 1957, trường Viễn Đông Bác Cổ tại Paris tập hợp các bài viết và in thành sách. Sách được tái bản năm 1992. Trong mục Philosophie populaire: Cosmologie (Vũ trụ quan ) Léopold Cadière sưu tầm được nhiều câu tục ngữ liên quan đến súc vật. 
Về phía các tác giả Việt Nam, có rất nhiều sách. Tuy nhiên, các sách nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về tục ngữ thì không nhiều.

October 2, 2015

- Người Việt không hiểu... tiếng Việt

Tiếng Việt vốn trong sáng và rất đẹp nhưng ngày nay, trên mạng xã hội, thậm chí trong học đường, chỉ vì theo trào lưu mà giới trẻ biến ngôn ngữ Việt trở nên khó hiểu, méo mó đến nỗi có chuyên gia đã cho rằng tiếng Việt đang bị hủy hoại.


Người Việt không hiểu... tiếng Việt
ảnh minh họa
Muốn hiểu phải đoán
Có thể tìm thấy vô vàn những đoạn văn đọc không thể hiểu tràn ngập trên các trang mạng xã hội. Một học sinh (HS) sau khi xem chương trình nói về dự án sách hóa nông thôn” đã viết cảm tưởng về nhân vật trong chương trình trên Facebook như sau: “Hnay con mở tjvj lên tj thấy chú thạch. Chú jk khắp nơi để phát động tủ sáck phụ huynh. Con rất khâm phục chú và rất mong một ngày sẽ dk như chú nhưng càng nghĩ càg thấy mk hk dk như z, vì hok hành k dk jỏj và hk đủ tự tin như chú. Bạn hà an lễ tj ns vs con là t cx pải có gắng hok tốt để dk như chú”.

September 28, 2015

Chữ quốc ngữ

Sự ra đời của chữ quốc ngữ -Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
Tiến sĩ  Nguyễn Tường Bách (tại Đức)

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hường. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc.

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.
Nhà truyền giáo đến với cộng đồng bằng thuyền ở Việt Nam xưa
Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.
Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh  năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.

Không có cái gọi là “từ Hán Việt”

......"Chúng tôi xin mạo muội đề nghị, cần một cuộc cách mạng loại bỏ thuật ngữ “từ Hán Việt” khỏi ngôn ngữ Việt để thay vào đó tên gọi đúng: tiếng Việt cổ! Đồng thời dùng lại thuật ngữ chữ Nho để gọi văn tự của tổ tiên mà xưa nay vẫn lầm tưởng là chữ nước ngoài."

Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80 % từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Đồng cảm với nỗi bức thúc của ông nhưng nhận thấy đây là vấn đề lớn và không hề đơn giản, chúng tôi xin thưa lại đôi lời.


I. Có đúng tiếng Việt vay mượn từ ngôn ngữ Hán?

Muốn giải quyết thỏa đáng chuyện này, không còn cách nào khác là phải đi tới tận cùng cội nguồn ngôn ngữ, không chỉ của người Việt mà cả của người Trung Hoa.

Nửa sau thế kỷ XIX, ngay khi chưa đặt xong ách đô hộ trên toàn cõi Vệt Nam, những học giả người Pháp đã có mặt để nghiên cứu thiên nhiên, con người, văn hóa, xã hội xứ Annam. Từ kết quả nghiên cứu, năm 1898, nhà nước bảo hộ Pháp cho thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội. Đứng đầu lĩnh vực khoa học nhân văn là những nhà Hán học như E. Aymonier, L. Maspéro… Là học giả phương Tây, họ mang quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của văn minh nhân loại. Là nhà Hán học, họ theo thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Họ cũng chịu ảnh hưởng của tri thức sai lầm đương thời cho rằng, con người từ Tây Tạng xâm nhập Trung Quốc rồi sau đó xuống Việt Nam và Đông Nam Á nên ánh sáng văn minh cũng từ Trung Hoa lan tỏa tới phương Nam. Khi nghiên cứu tiếng nói của người Việt Nam, họ có trong tay những bộ từ điển Trung Hoa đồ sộ như Từ Hải, Tứ khố toàn thư, Khang Hy… Trong khi đó, tiếng Việt chỉ có Từ điển Việt-Bồ-La của Alexander de Rhodes cùng Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, hai cuốn sách nhỏ, tập hợp từ ngữ Việt chữ Latinh mới có khoảng 300 tuổi. Bằng thao tác đơn giản là thống kê, so sánh những từ được cho là gốc Hán có trong tiếng Việt, họ eureka: “Tiếng Việt mượn khoảng 70% từ Hán ngữ!”

September 15, 2015

Văn Chương Việt Nam và chữ Y

 Văn chương Việt Nam, tự khi có chữ quốc ngữ đến nay, vẫn là niềm tự hào của dân tộc. Từ đó, mà thơ, văn, kịch nghệ đã phát triển. Điều đáng nói là Thơ, một thể loại văn chương đã được hầu hết mọi người dân ưa thích, từ những nhà trí thức đến dân giả, từ nhà tu hành đến kẻ làm chuyện ác, bất cứ ai cũng thích thơ, mê thơ, và muốn làm thơ. Ngay cả các cô thợ cấy, các anh thợ cầy cũng có thể buột miệng làm thơ. Thơ được ngâm lãng đãng trên các dòng sông miền Nam, nhẹ nhàng với tiếng chèo khua nước len lách bên cạnh hàng dừa nước. Thơ ngâm dưới ánh hoàng hôn, trong một vườn chè. Thơ bắt đầu một ngày làm việc, thơ kết thúc một buổi lao động mệt nhoài. Vui nhất là cho các thanh thiếu niên, khi yêu mà ngại ngùng không biết mở lời ra sao, đành mượn thơ thay cho lời tỏ tình và nhất định, không bao giờ thất bại, vì chẳng có người nào dữ dằn đến nỗi mà nghe đọc những câu thơ tình cảm mà lại nổi trận lôi đình. Đôi khi, trong một vài tình huống nguy hiểm lo âu chập chùng, người người đều thất sắc, nhưng nếu có ai biết đọc vài câu ca dao hùng tráng, thì lập tức tình hình thay đổi ngay.


Đặc biệt nữa là từ ý Thơ, mà ca dao dân tộc đã vươn ra mọi nơi, mọi chỗ. Chuyện gì cũng có ca dao bên cạnh, từ chê bai đến ngưỡng mộ, từ yêu thương đến chán ghét, từ răn dậy đến mắng mỏ… ca dao có mặt khắp mọi nơi, từ miền núi cao khô khan đến bình nguyên phong phú.
Bước xuống ruộng sâu lỡ sầu tấc dạ,
Tay ôm bó mạ nước mắt hai hàng.
Ai làm lỡ chuyến đò ngang,
Cho sông cạn nước hai hàng biệt ly.
Cất tiếng than hai hàng lụy nhỏ,
Anh nói thương em rồi lại bỏ em đây.

Thế giới đã thua Viêt Nam ở điểm này. Không có một dân tộc nào lại giầu có, lãng mạn qua Thơ như dân tộc Việt Nam. Một trong những chứng cớ tiêu biểu cho vị trí độc đáo của Thơ Việt Nam trong dòng Văn Học quốc tế là tập Đoạn Trường Tân Thanh, tức Kiều, của Nguyễn Du. Người ta tôn trọng thơ của Nguyễn Du không những chỉ là tài diễn tả một câu chuyện dài bằng thơ, mà mỗi nhóm chữ trong thơ của Nguyễn Du đều phảng phất một bài học răn đời.

Như thế, văn chương và văn học Việt Nam là những nét độc đáo trong dòng sinh mệnh của dân tộc, cần phải bảo tồn bằng mọi giá. Không những chỉ bảo tồn toàn diện các áng văn thơ, mà còn phải bảo tồn từng chữ viết, thí dụ như chữ “Y”.

Trong dòng chữ quốc ngữ, chữ nào cũng có vị trí của nó, không thể thay thể được, đặc biệt là chữ "Y". Từ đó mà ta có chữ THƯƠNG YÊU, NGƯỜI YÊU DẤU ƠI, THU THỦY, TRUYỀN THUYẾT, HUY CHƯƠNG...
Trở lại ngay đoạn ca dao dẫn chứng ở trên, chúng ta thấy nếu thay 
“Y” bằng “I”, là cả đoạn ca dao tan nát:

Bước xuống ruộng sâu lỡ sầu tấc dạ,
Tay ôm bó mạ nước mắt hai hàng.
Ai làm lỡ CHU-IẾN đò ngang,
Cho sông cạn nước hai hàng biệt LI.
Cất tiếng than hai hàng LỤI nhỏ,
Anh nói thương em rồi lại bỏ em ĐÂI.
Đoạn ca dao khác:
Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông NGU-IỆT lão đánh mười cẳng tay.
Đánh thôi lại trói vào cây,
Hỏi ông NGU-IỆT lão: "đâu dây tơ hồng?"
Thí dụ khác:
Nhác trông lên đã xế tà
Đêm KHU-IA khoắt con gà gáy sang canh.
Mong anh mà chẳng thấy anh,
Thiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn.
Hoặc:
Mê anh chẳng phải mê tiền,
Thấy anh lịch sự có DUI- ÊN dịu dàng.
Thấy anh em những mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.

Trở lại với Đoạn Trường Tân Thanh, và nhìn ngay vào tên của tác giả, nếu đổi “Y” thành “I” thì ta đã giết chết một nhà thơ Vĩ Đại của mọi thời đại: NGU-IÊN DU! Không có nhân vật này trong văn học Việt Nam.
Ngay trong phần mở đầu, nếu vất bỏ chữ Y, ta sẽ thấy:

Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn TRU-IỀN sử xanh!
…
Mai cốt cách, TU-IẾT tinh thần
Mỗi người môt vẻ, mười phân vẹn mười..

Như thế, ích lợi gì của việc bỏ chữ “Y”, thay bằng chữ “I”? Điều khủng khiếp hơn nữa là nếu thi hành như vậy, thì hàng chục triệu người sẽ mất tên, sẽ biến mất trong đau khổ: tất cả những thiếu nữ, thiếu phụ vẫn từng hãnh diện mang tên THỦY, THỤY, HUYỀN; tất cả những người nam có tên HUY, TRUYỀN, CHUYÊN… sẽ không còn trong sổ bộ đời của dân tộc. Họ NGUYỄN cũng biến mất luôn. Sẽ không còn NGUYỄN HUỆ, NGUYỄN ÁNH…
 Kẻ muốn thay đổi, chỉ cần một nét chữ, đã giết chết cả chục triệu người nhanh như một làn chớp nếu không muốn nói là xóa sổ cả một dân tộc.
Thật là một ý kiến quái dị!

Chu Tất Tiến